Chỉ Định
Ðiều trị tăng huyết áp ác tính đe doạ tính mạng:
Tăng huyết áp động mạch ác tính/bệnh lý não do tăng huyết áp.
Bóc tách động mạch chủ, khi điều trị bằng thuốc chẹn beta tác dụng ngắn không thích hợp, hoặc dùng phối hợp với một thuốc chẹn beta khi sự ức chế thụ thể beta đơn thuần không có hiệu quả.
Tiền sản giật nặng, khi các thuốc hạ huyết áp đường tĩnh mạch khác không được khuyến nghị hoặc chống chỉ định.
Ðiều trị tăng huyết áp sau mổ.
Chống Chỉ Định
Tiền sử quá mẫn với nicardipine hoặc một trong các thành phần thuốc.
Hẹp van động mạch chủ nặng.
Tăng huyết áp bù trừ, như trường hợp shunt động – tĩnh mạch hoặc hẹp eo động mạch chủ.
Đau thắt ngực không ổn định.
Trong vòng 8 ngày sau nhồi máu cơ tim.
Thành phần
Nicardipin 10mg
Cách Dùng Và Liều Dùng
Tác dụng chống tăng huyết áp phụ thuộc vào liều dùng. Liều lượng để đạt huyết áp mong muốn có thể thay đổi tùy theo huyết áp mục tiêu, đáp ứng của bệnh nhân, tuổi và tổng trạng của bệnh nhân.
Trừ khi được tiêm truyền qua catheter tĩnh mạch trung tâm, cần pha loãng thuốc đến nồng độ 0.1 – 0.2mg/ml trước khi dùng.
Người lớn
Liều ban đầu: Bắt đầu điều trị bằng cách truyền nicardipine liên tục ở tốc độ 3–5mg/giờ trong 15 phút. Có thể tăng tốc độ truyền từng bậc 0.5 hoặc 1mg mỗi 15 phút. Tốc độ truyền tĩnh mạch không được quá 15mg/giờ.
Liều duy trì: Khi đã đạt được huyết áp mục tiêu, phải giảm liều dần, thường còn khoảng 2–4mg/giờ, để duy trì hiệu quả điều trị.
Chuyển sang dùng thuốc hạ huyết áp dạng uống: Ngưng dùng nicardipine hoặc giảm liều khi bắt đầu dùng đồng thời với một thuốc uống thích hợp. Khi bắt đầu dùng thuốc hạ huyết áp dạng uống, cần lưu ý đến việc thuốc uống bị chậm khởi phát. Tiếp tục theo dõi huyết áp bằng monitor đến khi có được tác dụng mong muốn. Có thể chuyển sang điều trị bằng đường uống với nicardipine viên nén 20mg ở liều 60mg/ngày chia làm 3 lần, hoặc nicardipine 50mg viên phóng thích kéo dài ở liều 100mg/ngày chia làm 2 lần.
Bệnh nhân cao tuổi
Người cao tuổi có thể nhạy cảm hơn với các tác dụng của nicardipine vì sự suy giảm chức năng thận và/hoặc gan. Nên dùng nicardipine truyền tĩnh mạch liên tục bắt đầu với liều 1–5mg/giờ, tùy theo huyết áp và tình trạng lâm sàng. Sau 30 phút, tùy theo tác dụng quan sát thấy, có thể tăng hoặc giảm tốc độ truyền từng bậc 0.5mg/giờ. Tốc độ truyền tĩnh mạch không được quá 15mg/giờ.
Phụ nữ có thai
Nên dùng nicardipine truyền tĩnh mạch liên tục với tốc độ ban đầu 1 – 5mg/giờ, tùy theo huyết áp và tình trạng lâm sàng. Sau 30 phút, tùy theo tác dụng quan sát thấy, có thể tăng hoặc giảm tốc độ truyền từng bậc 0.5mg/giờ. Trong điều trị tiền sản giật, liều dùng thường không vượt quá 4mg/giờ. Tốc độ tối đa không được quá 15mg/giờ.
Bệnh nhân suy gan
Phải thận trọng khi dùng nicardipine trên những bệnh nhân này. Nicardipine được chuyển hóa ở gan, nên dùng liều theo phác đồ được khuyến cáo cho bệnh nhân cao tuổi bị suy gan hoặc có giảm lưu lượng máu qua gan.
Bệnh nhân suy thận
Phải thận trọng khi dùng nicardipine trên những bệnh nhân này. Ở một số bệnh nhân suy thận trung bình, đã quan sát thấy độ thanh thải toàn thân thấp hơn và diện tích dưới đường cong (AUC) cao hơn một cách có ý nghĩa. Vì vậy, nên dùng liều theo phác đồ được khuyến cáo cho bệnh nhân cao tuổi bị suy thận.
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả trên trẻ nhẹ cân lúc sinh, trẻ sơ sinh, trẻ còn bú mẹ và trẻ em chưa được chứng minh. Chỉ sử dụng nicardipine trong trường hợp tăng huyết áp đe dọa tính mạng tại phòng chăm sóc tích cực nhi khoa hoặc trong phòng hậu phẫu.
Liều ban đầu: Trong trường hợp khẩn cấp, liều ban đầu được khuyên dùng là 0.5 – 5 mcg/kg/phút.
Liều duy trì: Liều duy trì được khuyên dùng là 1 – 4 mcg/kg/phút.
Phải thận trọng khi dùng nicardipine ở trẻ em bị suy thận. Trong trường hợp này, chỉ được dùng liều thấp nhất có hiệu quả.
Thận Trọng
Giảm huyết áp nhanh dưới tác dụng của thuốc có thể dẫn đến hạ huyết áp toàn thân và nhịp tim nhanh phản xạ. Nếu xuất hiện một trong hai trường hợp trên khi dùng nicardipine, cân nhắc giảm một nửa liều dùng hoặc ngưng truyền.
Việc tiêm tĩnh mạch trực tiếp (liều bolus) hoặc dùng đường tĩnh mạch không được kiểm soát bằng bơm tiêm điện hoặc bơm tiêm tự động không được khuyến nghị và có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp nặng, đặc biệt trên người cao tuổi, trẻ em, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan và phụ nữ mang thai.
Suy tim: Phải thận trọng khi dùng nicardipine trên bệnh nhân suy tim sung huyết hoặc phù phổi, đặc biệt là bệnh nhân được điều trị đồng thời với thuốc chẹn beta vì nguy cơ làm suy tim nặng thêm.
Bệnh tim mạch thiếu máu cục bộ: Nicardipine bị chống chỉ định trong đau thắt ngực không ổn định và trong thời kỳ ngay sau nhồi máu cơ tim. Phải thận trọng khi dùng nicardipine trên bệnh nhân nghi có thiếu máu cục bộ do nguyên nhân động mạch vành. Đôi khi, bệnh nhân bị tăng tần suất, kéo dài thời gian hoặc tăng độ nặng của đau thắt ngực khi khởi đầu điều trị hoặc khi tăng liều, hoặc trong khi dùng nicardipine.
Phụ nữ mang thai: Vì nguy cơ hạ huyết áp nặng ở người mẹ và nguy cơ tử vong do thiếu oxy ở bào thai, việc hạ áp phải diễn ra từ từ và luôn được theo dõi chặt chẽ bằng monitor. Do có thể có nguy cơ phù phổi hoặc hạ áp quá mức, phải thận trọng khi sử dụng đồng thời với magnesium sulfate.
Bệnh nhân có tiền sử rối loạn chức năng gan hoặc suy gan: Đã có báo cáo về một số hiếm trường hợp bất thường chức năng gan có thể liên quan với việc sử dụng nicardipine. Các nhóm có nguy cơ cao là bệnh nhân có tiền sử rối loạn chức năng gan hoặc bệnh nhân suy gan khi bắt đầu điều trị với nicardipine.
Bệnh nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Có báo cáo cho thấy nicardipine liều cao dùng đường tĩnh mạch có thể làm nặng thêm tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa và chỉ số tuần hoàn bàng hệ cửa–chủ ở bệnh nhân xơ gan.
Bệnh nhân sẵn có tăng áp lực nội sọ: Phải theo dõi áp lực nội sọ để có thể tính ra áp lực tưới máu não.
Bệnh nhân tai biến mạch máu não: Phải thận trọng khi dùng nicardipine trên bệnh nhân nhồi máu não cấp tính. Các cơn tăng huyết áp thường đi kèm với tai biến mạch máu não không phải là một chỉ định để điều trị chống tăng áp khẩn cấp. Việc sử dụng thuốc hạ huyết áp không được khuyên dùng trong trường hợp tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ, trừ khi cơn tăng huyết áp cản trở việc sử dụng một điều trị thỏa đáng (ví dụ thuốc tan huyết khối) hoặc trong trường hợp có tổn thương cơ quan đích khác có nguy cơ gây tử vong trước mắt.
Phối hợp với thuốc chẹn beta: Cần thận trọng khi dùng nicardipine phối hợp với thuốc chẹn beta trên bệnh nhân bị suy giảm chức năng tim. Trong trường hợp ấy, phải chỉnh liều thuốc chẹn beta tùy theo tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân.
Phản ứng tại chỗ tiêm: Có thể xảy ra các phản ứng tại chỗ truyền, đặc biệt khi dùng thuốc kéo dài và dùng đường truyền tĩnh mạch ngoại biên. Nên thay đổi vị trí tiêm truyền trong trường hợp nghi ngờ kích ứng tại chỗ tiêm. Sử dụng đường tĩnh mạch trung tâm hoặc một dung dịch loãng hơn có thể làm giảm nguy cơ xảy ra phản ứng tại chỗ tiêm.
Trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của nicardipine đường tĩnh mạch chưa được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên trẻ còn bú hoặc trẻ em. Vì vậy, cần thận trọng đặc biệt ở các đối tượng này.
Vì có sự hiện diện của sorbitol, thuốc này bị chống chỉ định trong trường hợp không dung nạp fructose (một loại rối loạn chuyển hóa có tính di truyền).
Bảo Quản
Nơi khô thoáng, tránh ẩm.