Chỉ Định
- Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML) ở người lớn.
- Các bệnh bạch cầu khác ở người lớn và trẻ em.
Chống Chỉ Định
- Chống chỉ định với các trường hợp nhạy cảm với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc.
- Thiếu máu, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu không do căn nguyên ác tính (như bất sản tủy); trừ khi bác sĩ cho rằng sử dụng thuốc này là lựa chọn tốt nhất cho bệnh nhân.
Thành phần
Cytarabin 500mg
Cách Dùng Và Liều Dùng
Điều trị giảm nhẹ:
Điều trị liên tục
- Liều khởi đầu nên dùng là 2 mg/kg/ngày, tiêm nhanh trong 10 ngày. Kiểm tra công thức máu hàng ngày. Nếu tác dụng chống ung thư bạch cầu không được ghi nhận và không có dấu hiệu độc tính, tăng liều lên 4 mg/kg/ngày và duy trì cho đến khi đáp ứng điều trị hoặc có độc tính, Hầu hết tất cả các bệnh nhân có dấu hiệu độc tính với liều trên.
- Liều 0,5 - 1,0 mg/kg/ngày có thể được truyền với thời gian lên đến 24 giờ. Phần lớn bệnh nhân đạt được kết quả khả quan ngay sau khi truyền một giờ. Sau điều trị 10 ngày, liều hàng ngày có thể tăng lên 2 mg/kg/ngày tùy thuộc vào phản ứng độc tính. Tiếp tục theo dõi độc tính hoặc cho đến khi có dấu hiệu thuyên giảm.
Điều trị ngắt quãng
- Tiêm truyền tĩnh mạch 3 - 5 mg/kg/ngày trong năm ngày liên tục. Sau đó ngừng 2 - 9 ngày, rồi lại tiếp tục liệu trình. Duy trì cho đến khi có đáp ứng hoặc có dấu hiệu độc tính.
- Bằng chứng đầu tiên của dấu hiệu cải thiện tủy xương được quan sát thấy trong vòng 7 - 64 ngày sau khi bắt đầu điều trị (trung bình 28 ngày).
- Nhìn chung, nếu sau một giai đoạn điều trị thăm dò cho thấy không có độc tính và bệnh không thuyên giảm, nên cân nhắc với liều cao hơn.
Điều trị duy trì
Tình trạng thuyên giảm do điều trị bằng cytarabin, hoặc bằng các loại thuốc khác có thể được duy trì bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da 1 mg/kg, 1 - 2 lần/tuần.
Viêm màng não do bạch cầu cấp
Phác đồ điều trị bệnh viêm màng não rất đa dạng nhưng tổng liều khuyến cáo hàng ngày không được vượt quá 100 mg, khuyến khích sử dụng xen kẽ với methotrexat (cùng đường truyền hoặc tiêm vào khoang nhện). Suy tủy, thiếu máu và giảm tiểu cầu xảy ra trên hầu hết bệnh nhân được tiêm hoặc truyền cytarabin hàng ngày. Suy tủy có tính hai pha và điểm đáy ở khoảng sau 7 - 9 ngày và 15 - 24 ngày. Bằng chứng của dấu hiệu cải thiện tủy xương được quan sát thấy trong vòng 7 - 64 ngày sau khi bắt đầu điều trị (trung bình 28 ngày).
Quần thể bệnh nhân nhi
Trẻ em dung nạp được thuốc liều cao hơn so với người lớn, do vậy khi khoảng liều được đưa ra, trẻ em sẽ được chỉ định liều cao hơn và người lớn sẽ được chỉ định liều thấp hơn.
Bệnh nhân cao tuổi
Không có dữ liệu cho thấy cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi. Tuy nhiên, bệnh nhân cao tuổi thường không chịu được độc tính của thuốc như bệnh nhân trẻ tuổi, vì vậy cần đặc biệt chú ý nếu có dấu hiệu giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu. Các biện pháp điều trị hỗ trợ cần được chỉ định khi cần thiết.
Thận Trọng
Tác dụng về huyết học
- Cytarabin là một chất ức chế mạnh tủy xương. Cần thận trọng khi bắt đầu sử dụng thuốc trên các bệnh nhân có tiền sử ức chế tủy xương do thuốc. Các bệnh nhân đang sử dụng thuốc này phải được giám sát chặt chẽ, cần theo dõi số lượng bạch cầu và tiểu cầu hàng ngày trong suốt phác đồ điều trị tấn công. Cần thường xuyên kiểm tra chức năng tủy xương sau khi các tế bào blast không còn xuất hiện trong máu ngoại vi.
- Cần chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện để xử trí các biến chứng có thể dẫn đến tử vong do ức chế tủy xương (như nhiễm khuẩn do giảm bạch cầu hạt và sự suy giảm các hệ thống phòng vệ khác của cơ thể, xuất huyết thứ phát do giảm tiểu cầu).
- Phản ứng sốc phản vệ đã xảy ra khi điều trị bằng cytarabin. Đã ghi nhận sốc phản vệ dẫn đến ngưng tim phổi cấp tính và cần phải hồi sức. Điều này xảy ra ngay lập tức sau khi tiêm tĩnh mạch cytarabin (xem mục Tác dụng không mong muốn).
Liệu trình điều trị liều cao
- Độc tính nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong liên quan đến phối, hệ tiêu hóa, thần kinh trung ương (ngoài độc tính đã được ghi nhận khi sử dụng chế độ liều quy ước của cytarabin) đã được ghi nhận khi sử dụng một số liệu trình liều cao cytarabin trên thực nghiệm (2 - 3 g/m2). Các phản ứng này bao gồm độc tính có hồi phục trên giác mạc; rối loạn chức năng não và tiểu não thường có khả năng hồi phục; ngủ gà; co giật; loét dạ dày - ruột nặng; nhiễm trùng huyết, áp xe gan và phù phối (xem mục Tác dụng không mong muốn).
- Cytarabin đã được chứng minh là gây ung thư ở động vật. Cần lưu ý là có thể xảy ra các tác dụng tương tự nếu điều trị lâu dài cho bệnh nhân.
- Các bệnh nhân sử dụng cytarabin phải được giám sát chặt chẽ. Phải thường xuyên theo dõi số lượng tiểu cầu và bạch cầu.
- Nên ngừng hoặc thay đổi phác đồ điều trị khi tác dụng ức chế tủy xương do thuốc dẫn đến giảm số lượng tiểu cầu xuống dưới 50000 tế bào/mm3 hoặc giảm số lượng bạch cầu đa nhân xuống dưới 1000 tế bào/mm3. Số lượng huyết cầu trong máu ngoại vi có thể tiếp tục giảm sau khi ngừng thuốc và đạt giá trị cực tiểu sau 5 đến 7 ngày ngừng thuốc. Có thể bắt đầu sử dụng lại phác đồ cytarabin khi có dấu hiệu chắc chắn cho thấy tủy xương đã hồi phục (dựa trên kết quả các xét nghiệm lặp lại để đánh giá tủy xương). Các bệnh nhân được ngừng sử dụng thuốc cho đến khi các giá trị xét nghiệm máu ngoại vi trở lại “bình thường” có thể không yêu cầu bước kiểm tra này.
- Có thể gặp bệnh thần kinh cảm giác và bệnh thần kinh vận động ngoại biên khi điều trị củng cố với phác đồ cytarabin liều cao, daunorubicin và asparaginase trên các bệnh nhân trưởng thành mắc bệnh bạch cầu cấp không thuộc dòng lympho (bệnh bạch cầu cấp dòng tủy). Bệnh nhân đang sử dụng cytarabin liều cao cần được theo dõi bệnh thần kinh, có thể cần thay đổi liệu trình liều để tránh các rối loạn thần kinh không hồi phục.
- Độc tính nghiêm trọng trên phổi có thể dẫn đến tử vong trong một số trường hợp, hội chứng suy hô hấp đột ngột và phù phổi đã xuất hiện khi sử dụng phác đồ cytarabin liều cao.
- Khi tiêm tĩnh mạch nhanh cytarabin, bệnh nhân thường buồn nôn và có thể nôn trong một vài giờ sau đó. Vấn đề này được cải thiện khi dùng đường truyền tĩnh mạch.
Liệu trình điều trị thông thường
- Đau bụng (viêm phúc mạc) và viêm đại tràng guaiac dương tính kèm theo giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu đã được ghi nhận trên các bệnh nhân sử dụng kết hợp cytarabin liều quy ước với các thuốc khác. Các bệnh nhân này đáp ứng với những biện pháp xử trí không cần phẫu thuật.
- Liệt xuất hiện muộn, tiến triển theo hướng từ hai chi dưới lên trên dẫn tới tử vong đã được ghi nhận trên bệnh nhi mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tủy sau khi sử dụng kết hợp cytarabin tiêm nội tủy và truyền tĩnh mạch tại mức liễu quy ước với các thuốc khác.
- Cần theo dõi chức năng gan và chức năng thận trong suốt quá trình sử dụng cytarabin. Trên các bệnh nhân trước đó đã có tổn thương gan, chỉ sử dụng cytarabin khi có chế độ giám sát đặc biệt.
- Cần định kỳ kiểm tra chức năng tủy xương, chức năng gan và chức năng thận trên các bệnh nhân sử dụng cytarabin.
Hội chứng phân giải khối u
Tương tự các thuốc gây độc tế bào khác, cytarabin có thể làm tăng acid uric máu thứ phát do sự ly giải nhanh các tế bào khối u. Các bác sĩ cần theo dõi nồng độ acid uric máu của bệnh nhân, chuẩn bị các biện pháp hỗ trợ và thuốc thích hợp để xử trí biến cố này.
Liều cao
Nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn trên thần kinh trung ương tăng lên khi trước đó bệnh nhân đã sử dụng phác đồ trị liệu trên thần kinh trung ương như hóa trị liệu nội tủy hoặc xạ trị.
Tác dụng ức chế miễn dịch/tăng nhạy cảm với nhiễm trùng
- Sử dụng vaccin sống hoặc vaccin sống đã được làm giảm độc lực trên các bệnh nhân suy giảm miễn dịch do sử dụng các hóa trị liệu bao gồm cytarabin có thể dẫn đến nhiễm trùng nặng hoặc tử vong. Cần tránh tiêm chủng bằng vaccin sống trên bệnh nhân đang sử dụng cytarabin. Có thể sử dụng vaccin chết hoặc bất hoạt, tuy nhiên bệnh nhân có thể giảm đáp ứng với các vaccin này.
- Trên thực nghiệm, đã ghi nhận các trường hợp mắc bệnh cơ tim dẫn đến tử vong sau khi sử dụng liệu pháp cytarabin liều cao và cyclophosphamid để chuẩn bị ghép tủy.
Viêm tụy
Viêm tụy cấp đã được báo cáo xảy ra trên những bệnh nhân điều trị cytarabin kết hợp với các thuốc khác.
Thần kinh
- Các trường hợp tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên hệ thần kinh từ đau đầu đến tê liệt, hôn mê và giống với đột quỵ đã được báo cáo chủ yếu ở trẻ vị thành niên và thanh thiếu niên khi tiêm tĩnh mạch cytarabin kết hợp với methotrexat nội tủy.
- Cytarabin là một chất gây quái thai và gây đột biến. Nên tránh tiếp xúc với da và niêm mạc, đặc biệt là khu vực mắt.
Bảo Quản
Nơi khô thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp.