Thuốc bột pha tiêm Xolair 150mg (1 lọ/hộp)
Thuốc bột pha tiêm Xolair 150mg điều trị hen do dị ứng và mề đay tự phát mãn tính.
Thuốc bột pha tiêm Xolair 150mg điều trị hen do dị ứng và mề đay tự phát mãn tính.
Điều trị hen do dị ứng:
Điều trị mày đay tự phát mạn tính cho người lớn và thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên) không đáp ứng đầy đủ với thuốc kháng histamine H1.
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần nào có trong thuốc.
Thuốc chỉ được tiêm dưới da. Không được tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Hướng dẫn sử dụng, xử lý và hủy bỏ
Lọ bột và dung môi để pha dung dịch tiêm.
Bột pha dung dịch tiêm Xolair 150 mg được cung cấp trong lọ dùng một lần và không chứa các chất bảo quản kháng khuẩn. Độ ổn định về lý hóa của thuốc đã pha đã được chứng minh là trong 8 giờ ở 2oC đến 8oC và trong 4 giờ ở 30oC. Theo quan điểm vi sinh học, dung dịch thuốc cần được dùng ngay sau khi pha. Trường hợp không dùng ngay, dung dịch thuốc có thể được sử dụng trong thời gian không quá 8 giờ với điều kiện bảo quản là 2 – 8oC hoặc 2 giờ tại 25°C.
Sản phẩm đông khô cần 15 – 20 phút để hòa tan, mặc dù trong một số trường hợp có thể cần lâu hơn.
Hướng dẫn chuẩn bị Xolair cho việc tiêm dưới da
Liều dùng
Dùng cho thanh thiếu niên và người lớn (từ 12 tuổi trở lên)
Hen do dị ứng
Liều dùng thích hợp và số lần dùng Xolair phụ thuộc vào nồng độ IgE ban đầu (IU/mL) được đo trước khi bắt đầu điều trị và vào thể trọng (kg). Trước khi bắt đầu dùng thuốc, bệnh nhân cần được định lượng nồng độ IgE bởi bất kỳ một phương pháp định lượng IgE toàn phần trong huyết thanh để phân bổ liều. Dựa vào những kết quả này, liều Xolair có thể cần cho mỗi lần dùng là 75 – 600 mg chia ra 1 đến 4 mũi tiêm. Bảng 4 là sơ đồ chuyển đổi, bảng 5 và 6 là để xác định liều. Đối với các liều 225, 375 hoặc 525 mg Xolair, cần dùng phối hợp loại Xolair 150 mg với Xolair 75 mg.
Những bệnh nhân có nồng độ IgE ban đầu hoặc thể trọng tính bằng kg ngoài giới hạn trong bảng xác định liều thì không nên dùng Xolair.
Không tiêm quá 150 mg omalizumab tại một vị trí tiêm trong một lần tiêm. Khi liều dùng hơn 150 mg, nên chia liều để tiêm ở hai hay nhiều vị trí tiêm.
Thời gian điều trị, theo dõi và điều chỉnh liều.
Trong các thử nghiệm lâm sàng thấy có giảm các cơn hen kịch phát và giảm việc sử dụng các thuốc cấp cứu, đồng thời cải thiện được các điểm số về triệu chứng trong 16 tuần điều trị đầu tiên. Cần ít nhất 12 tuần điều trị để đánh giá một cách thỏa đáng xem bệnh nhân có đáp ứng với Xolair hay không.
Xolair cần được điều trị lâu dài. Ngừng thuốc thường làm cho nồng độ IgE tự do và các triệu chứng kết hợp tăng trở lại.
Nồng độ IgE toàn phần tăng cao trong quá trình điều trị và vẫn giữ mức cao cho đến một năm sau khi đã ngừng điều trị. Do đó, định lượng lại nồng độ IgE trong khi điều trị bằng Xolair không được dùng làm cơ sở để xác định liều dùng. Việc xác định liều dùng sau khi ngừng điều trị chưa được 1 năm nên dựa vào nồng độ IgE trong huyết thanh khi xác định liều dùng đầu tiên. Nếu đã ngừng dùng Xolair được từ một năm trở lên có thể định lượng lại nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh để quyết định liều.
Mày đay tự phát mạn tính
Liều khuyến cáo là 300 mg tiêm dưới da bốn tuần một lần. Có thể kiểm soát triệu chứng bệnh trên một số bệnh nhân với liều 150 mg bốn tuần một lần.
Bệnh nhân suy thận hoặc suy gan
Không có nghiên cứu về tác động của suy thận hoặc suy giảm chức năng gan trên dược động học của Xolair. Bởi vì độ thanh thải của omalizumab tại liều lâm sàng chủ yếu là do quá trình thanh thải của IgG bao gồm cả thoái giáng tại hệ thống lưới nội mô (RES) nên khó có thể bị thay đổi do suy thận hoặc suy gan. Trong khi không có khuyến cáo cụ thể về điều chỉnh liều lượng, Xolair nên được dùng thận trọng ở những nhóm bệnh nhân này.
Người cao tuổi
Dữ liệu hiện có về việc dùng Xolair cho bệnh nhân trên 65 tuổi còn hạn chế, tuy nhiên, chưa có bằng chứng là bệnh nhân cao tuổi cần phải dùng liều khác với bệnh nhân trưởng thành trẻ tuổi hơn.
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả cho bệnh nhi dưới 12 tuổi chưa được xác định, nên không khuyến cáo dùng Xolair cho các bệnh nhân lứa tuổi này.
Xolair không được chỉ định để điều trị trong điều trị cơn hen kịch phát cấp tính, co thắt phế quản cấp hoặc trạng thái hen cấp.
Xolair chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân bị hội chứng tăng IgE hoặc bị bệnh nấm Aspergillus phế quản – phổi dị ứng hoặc để phòng ngừa phản ứng phản vệ.
Xolair chưa được nghiên cứu đầy đủ trong điều trị viêm da dị ứng, viêm mũi dị ứng hoặc dị ứng thức ăn.
Xolair chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân bị bệnh tự miễn, các bệnh qua trung gian phức hợp miễn dịch hoặc các bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận từ trước. Cần thận trọng khi dùng Xolair ở những nhóm bệnh nhân này.
Việc ngừng đột ngột corticosteroid dùng đường toàn thân hoặc dạng hít sau khi bắt đầu điều trị bằng Xolair không được khuyến cáo. Sự giảm liều corticosteroid cần được thực hiện dưới sự giám sát trực tiếp của bác sĩ và có thể cần được tiến hành dần dần.
Nồng độ IgE tăng lên trong quá trình điều trị và vẫn duy trì ở mức cao đến một năm sau khi ngừng điều trị. Sau khi bắt đầu điều trị, việc đo lường của tổng IgE để xác định liều không được khuyến cáo do xét nghiệm định lượng IgE cũng định lượng phức hợp IgE có gắn omalizumab.
Phản ứng dị ứng
Cũng như với bất kỳ protein nào, các phản ứng dị ứng tại chỗ hoặc toàn thân kể cả phản vệ có thể xảy ra khi dùng omalizumab. Do đó, thuốc phải được tiêm tại một cơ sở y tế nơi mà các thuốc để điều trị phản ứng phản vệ cần phải có sẵn để sử dụng được ngay sau khi dùng Xolair. Cần thông báo cho bệnh nhân là các phản ứng như vậy có thể xảy ra và bệnh nhân cần phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế kịp thời nếu phản ứng dị ứng xảy ra.
Theo kinh nghiệm hậu mãi, phản ứng phản vệ và phản ứng dạng phản vệ đã được báo cáo sau khi dùng Xolair lần đầu hoặc những lần tiếp theo. Hầu hết các phản ứng này xảy ra trong vòng 2 giờ.
Cũng như với tất cả các kháng thể đơn dòng được người hóa có nguồn gốc DNA tái tổ hợp, trong những trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể phát triển kháng thể kháng omalizumab.
Bệnh huyết thanh và phản ứng giống bệnh huyết thanh là những phản ứng dị ứng chậm type III hiếm gặp đã được ghi nhận ở bệnh nhân được điều trị bằng kháng thể đơn dòng của người kể cả omalizumab. Khởi phát thường từ 1 – 5 ngày sau các mũi tiêm đầu tiên hoặc các mũi tiêm tiếp theo, bệnh cũng xảy ra sau thời gian dài điều trị. Các triệu chứng gợi ý bệnh huyết thanh bao gồm viêm khớp/đau khớp, nổi ban (nổi mày đay hoặc các dạng khác), sốt và bệnh hạch bạch huyết. Thuốc kháng histamine và corticosteroid có thể hữu ích để phòng ngừa hoặc điều trị rối loạn này và cần khuyên bệnh nhân báo cáo bất kỳ triệu chứng nào nghi ngờ.
Nhiễm ký sinh trùng
IgE có thể liên quan đến đáp ứng miễn dịch đối với một số bệnh nhiễm. Ở các bệnh nhân có nguy cơ cao và kéo dài về nhiễm giun sán, một thử nghiệm có đối chứng với giả dược ở bệnh nhân dị ứng cho thấy có tăng nhẹ tỷ lệ nhiễm khi dùng omalizumab, mặc dù quá trình nhiễm, mức độ nặng và đáp ứng với điều trị nhiễm giun sán không thay đổi. Cần phải thận trọng ở những bệnh nhân có nguy cơ cao nhiễm giun sán, đặc biệt là khi họ đi đến những vùng có dịch nhiễm giun sán. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị chống giun sán đã được khuyến cáo, cần ngừng dùng Xolair.
Nơi khô thoáng, tránh ánh sáng trực tiếp.
